Trước năm 1975 nhà tôi ở ngay bên cạnh nhà một vị sĩ
quan của quân lực VNCH, đại úy Liên. Sau năm 1968, ba tôi đang là một giáo chức
nhận lệnh động viên và cũng trở thành một sĩ quan. Ông Liên là sĩ quan tài
chính, ba tôi là lính tiếp vận. Hai ông trở thành chiến hữu, thường xuyên qua lại đàm đạo về chính trị,
chiến tranh và thời cuộc.
Ngày 29/03/1975 trong khi bộ đội Việt Cộng đang tiến
vào Đà Nẵng, ba tôi và ông đại úy Liên mang hết quân phục, tài liệu quân đội ra
đốt sau vườn. Tôi còn nhớ, vừa đốt áo quần, tài liệu, ông Liên vừa nói với ba
tôi rằng: “Thôi thế cũng xong. Mình thua, họ thắng. Nhưng dù sao họ với mình
cũng là anh em ruột thịt. Hòa bình rồi…chắc cũng không đến nỗi nào”.
Niềm tin rằng Việt cộng và Quốc gia, miền Bắc và
miền Nam, là anh em ruột thịt, và hòa bình thống nhất sẽ hóa giải hận thù, đã
khiến ông đại úy Liên phải trả một giá rất đắt. Không chịu nỗi điều kiện giam
cầm, tra tấn khủng khiếp, ông đại úy chết không nhìn thấy mặt vợ con trong một
trại cải tạo ở miền Bắc.
Ngay từ sau ngày 30/04/1975, những người cộng sản
Việt Nam đã liên tục nói nhiều, thuyết giảng nhiều về tinh thần hòa hợp hòa
giải dân tộc, rằng chỉ có người Mỹ thua và tất cả người Việt Nam đều là kẻ
chiến thắng.
Tuy nhiên những ai đã sống qua những ngày sau “giải
phóng” ở miền Nam mới thấm thía cái tình anh em máu mủ với những người cộng sản
miền Bắc. Chắc không cần phải nhắc lại những gì những người cộng sản miền Bắc
đã làm với những người anh em miền Nam không may thua trận, khiến hàng triệu
người miền Nam phải liều chết ra đi tìm đường sống và tự do, tạo nên thảm cảnh
thuyền nhân kinh khủng nhất trong thế kỷ 20.
Hận thù, sự tàn bạo, dã tâm và bản chất dối trá của
những người cộng sản Việt Nam đã làm tiêu tan hết mọi hy vọng về một cơ may hòa
hợp hòa giải dân tộc sau một cuộc chiến tranh tang thương kéo dài 30 năm.
Gần đây tôi có đọc một số bài viết ví von cuộc chiến
1955-1975 ở Việt Nam với cuộc nội chiến 1861-1865 ở Hoa kỳ. Nhiều người viết mơ
rằng có một ngày những tử sĩ của quân đội miền Nam sẽ an nghỉ đời đời trong
cùng một nghĩa trang với những liệt sĩ của quân đội miền Bắc, như những người
anh hùng Nam-Bắc Mỹ trong nghĩa trang Arlington.
Tôi cho rằng những giấc mơ như thế sẽ không bao giờ
trở thành sự thật đối với dân tộc Việt Nam. Sự so sánh như trên chỉ làm cho mọi
người thấy rõ hơn huyền thoại Long Quân- Âu cơ, trăm trứng trăm con, chỉ mãi
mãi là một huyền thoại, và giải thích lý do vì sao người Mỹ cho đến bây giờ vẫn
là một dân tộc vĩ đại của nhân loại.
Mặc dầu cầm súng bắn nhau, những người lính trong
cuộc nội chiến Nam-Bắc Mỹ không bao giờ quên rằng họ là anh em. Mặc dầu phải
dùng chiến tranh bạo lực để giải quyết bất đồng chính kiến, người Mỹ cả hai
miền đều dành cho nhau lòng kính trọng bởi lẽ tất cả họ đều sẳn sang đón nhận
cái chết để bảo vệ chính kiến của mình. Phải chăng những người lính cả hai bên
trong cuộc nội chiến Nam-Bắc Mỹ đã nằm xuống cho sự chiến thắng của chân lý và
giúp hình thành một nước Mỹ vĩ đại? Mặc dầu thua trận, những người lính miền
Nam nước Mỹ tâm phục khẩu phục lý tưởng và tinh thần chiến đấu cho chân lý của
người lính miền Bắc nước Mỹ.
Điều đó đã không xảy ra với người Việt Nam trong
cuộc chiến vừa qua. Những người lính miền Nam thua trận nhưng hoàn toàn không
tâm phục khẩu phục những người chiến thắng. Bởi lẽ những người lính miền Nam
nhận thức rõ rằng lý tưởng chiến đấu của những người cộng sản miền Bắc không
phải là chân lý.Những người cộng sản miền Bắc đã du nhập vào Việt Nam một thứ
chủ nghĩa đấu tranh giai cấp ngoại lai, không tôn trọng chính kiến của người
anh em miền Nam, chụp mũ những người miền Nam là những kẻ bán nước, mạo danh
một cuộc chiến tranh chống ngoại xâm để đưa cả nước đi vào quỹ đạo của chủ
nghĩa cộng sản quốc tế.
Sau tất cả mọi cuộc xung đột, thiện chí hòa giải
không thể đến từ bên thua cuộc. Những người chiến thắng luôn luôn phải là những
người chìa ra bàn tay thân ái. Cũng như quân đội chiến thắng đã đứng nghiêm
chào những người lính bại trận Nam Mỹ trên đường về nhà, không hề có một chính
sách đối xử phân biệt, không hề có sự trả thù, tất cả mọi sự thật lịch sử đều
được tôn trọng và những người miền Nam thua trận được mời chào, tạo cơ hội để
đóng góp vào việc xây dựng một đất nước hùng cường trong tương lai..
Có thể những người lính trong quân đội Việt Nam Cộng
Hòa sẽ sớm quên đi những mặc cảm của bên thua cuộc, quên đi những đau đớn thể
xác trong những tháng năm tù tội nhọc nhằn, nếu được nhìn thấy từ chiến tranh
tàn phá, Việt Nam vươn lên trở thành một quốc gia giàu mạnh, dân tộc được hưởng
dân chủ tự do. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Sự thật lịch sử tiếp tục bị bóp
méo, đất nước tiếp tục bị cai trị bởi một chế độ độc tài lạc hậu, cả dân tộc
chưa từng có dân chủ và tự do.
Những người lính VNCH nói riêng và những người dân
miền Nam nói chung không kỳ vọng họ được đứng ngang hàng như những người chiến
thắng và chiến bại trong cuộc nội chiến Nam-Bắc Mỹ, nhưng vị trí của họ trong
dòng lịch sử của dân tộc phải được công nhận, sự thật về cuộc chiến Việt Nam
phải được ghi nhận trung thực và rõ ràng trong lịch sử.
Sỡ dĩ những người cộng sản Việt nam không thể chìa
bàn tay thân ái cho những người Quốc gia để hòa hợp hòa giải dân tộc, bởi vì họ
biết rằng tôn trọng sự thật lịch sử là bước đầu tiên trong tiến trình hòa hợp
hòa giải dân tộc.
Nhưng người cộng sản không thể chấp nhận sự thật
lịch sử, bởi lẽ một khi trả lại sự thật cho lịch sử, những người cộng sản có
thể phải đứng trước vành móng ngựa như những tên tội đồ của dân tộc Việt Nam.
Từ việc du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam, tiến hành đấu tranh giai cấp
giết hại hàng chục ngàn người dân vô tội, đến việc tiến hành cuộc chiến tranh
“ta đánh Mỹ là đánh cho Liên xô, Trung quốc” khiến hơn 3 triệu người Việt Nam
bỏ mạng, hàng chục triệu người tàn phế, “quyết tâm” xây dựng chủ nghĩa xã hội
khiến đất nước tụt hậu cả thế kỷ, dân tộc không được hưởng dân chủ tự do.
Thật khó khăn cho những người cộng sản Việt nam khi
phải chấp nhận phê phán công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng, thái độ đồng lõa với Trung quốc khi
những quân nhân VNCH và chiến sĩ của quân đội NDVN bỏ mình để bảo vệ biển đảo
của tổ quốc. Làm sao giải thích thái độ ươn hèn của chính quyền đối với thiên
triều Trung quốc? Làm sao giải thích câu hỏi vì sao sau 30 chiến tranh xương
máu , dân tộc Việt Nam vẫn tiếp tục xây dựng cái chủ nghĩa xã hội mà nhân loại
đã vứt vào sọt rác.
Gần đây, sau 40 năm tàn cuộc chiến, dưới sức ép của
công lý và dư luận, dưới sức ép của nhu cầu cần phải lên tiếng về chủ quyền
lãnh thổ quốc gia, sự thật của lịch sử dần dần hé lộ. Lần đầu tiên những người
cộng sản Việt Nam buộc phải từ bỏ cái thói quen làm việc nước như việc làng để
thừa nhận Việt Nam là một thành viên không thể tách rời khỏi cộng đồng quốc tế.
Và như thế, theo đúng Công pháp quốc tế sự thật là trước năm 1975 đã có hai
nước Việt Nam cùng tồn tại.
Theo đúng Công Pháp quốc tế thì rõ ràng Việt nam Dân
chủ Cộng hòa đã tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại và xâm lược Việt Nam Cộng
Hòa. Không những thế họ còn cúi đầu trước những đàn anh cộng sản như Liên Xô và
Trung quốc, bán rẻ lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc. Trong khi đó những chiến
sĩ của quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã hiên ngang nổ súng vào kẻ thù, chiến đấu
và hy sinh để bảo vệ bờ cõi biên cương của tổ quốc.
Thái độ trân trọng và công nhận công lao của những
người lính Việt Nam Cộng Hòa đã bỏ mình trong chiến đấu chống quân Trung quốc
xâm lược, có thể là bước đầu tiên để làm sống lại tiến trình hòa hợp và hòa
giải dân tộc.
Có dân tộc nào trên thế giới này, sau 40 năm tàn
cuộc chiến, hận thù giữa hai bên chiến tuyến vẫn còn ngút ngàn như dân tộc Việt
Nam? Có dân tộc nào trên thế giới này, sau 40 năm tàn cuộc chiến, những người
đại diện cho Việt Nam khi đi ra nước ngoài vẫn được đón tiếp bằng những cuộc
biểu tình chống đối sôi sục? Và ngày 30/4 hàng năm , các tòa đại sứ Việt Nam
trên toàn thế giới phải đóng cửa im ỉm để đối phó với những cuộc biểu tình của
người Việt Nam ở bên ngoài? Có dân tộc nào, sau 40 năm chiến tranh, trên những
website, người Việt vẫn còn chửi rũa nhau không tiếc lời?
Những điều nói trên cần phải chấm dứt, và chỉ có thể
chấm dứt khi người Việt giải quyết được vấn đề hòa hợp và hòa giải dân tộc.
Nhưng nếu những vấn đề như cuộc nội chiến ý thức hệ
1955-1975 giữa hai miền Nam-Bắc, công nhận tính hợp pháp của quốc gia Việt Nam
Cộng Hòa, công nhận sự sai lầm của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, tôn
trọng tất cả những người đã nằm xuống trong chiến tranh từ cả hai miền, vẫn còn
là những vấn đề mà đảng cộng sản Việt Nam gọi là “nhạy cảm”, thì hy vọng hòa
hợp hòa giải dân tộc sẽ không bao giờ thực hiện được.
Trong dòng chảy của lịch sử thế giới và dân tộc,
không có một sự thật nào có thể bị vĩnh viễn bưng bít. Người ta đã nói rằng nếu
anh bắn vào lịch sử bằng một phát súng trường thì lịch sử sẽ đáp trả anh bằng
một phát đại bác.
Trong cương vị của bên thắng cuộc, trách nhiệm bắt
đầu và kết thúc tiến trình hòa giải dân tộc nằm ở trong tay của những người
cộng sản. Chỉ với thái độ thiện chí thực sự, trả lại sự thật cho lịch sử, những
người cộng sản Việt Nam mới có thể đạt được vấn đề hòa giải dân tộc.
Nếu vấn đề hòa giải dân tộc quá khó khăn với những
người đang sống, xin hãy bắt đầu với những người đã chết. Việt Nam cần bắt đầu
với một biểu tượng của hòa giải hòa hợp dân tộc như nghĩa trang Arlington của
Hoa kỳ, để rồi đóng lại vĩnh viễn một giai đoạn thương đau của lịch sử dân tộc.
Ls Lê Đức Minh