Wednesday, 5 March 2014

Tôn Trọng Sự Thật Lịch Sử Để Hòa Giải Dân Tộc


Trước năm 1975 nhà tôi ở ngay bên cạnh nhà một vị sĩ quan của quân lực VNCH, đại úy Liên. Sau năm 1968, ba tôi đang là một giáo chức nhận lệnh động viên và cũng trở thành một sĩ quan. Ông Liên là sĩ quan tài chính, ba tôi là lính tiếp vận. Hai ông trở thành chiến hữu,  thường xuyên qua lại đàm đạo về chính trị, chiến tranh và thời cuộc.

Ngày 29/03/1975 trong khi bộ đội Việt Cộng đang tiến vào Đà Nẵng, ba tôi và ông đại úy Liên mang hết quân phục, tài liệu quân đội ra đốt sau vườn. Tôi còn nhớ, vừa đốt áo quần, tài liệu, ông Liên vừa nói với ba tôi rằng: “Thôi thế cũng xong. Mình thua, họ thắng. Nhưng dù sao họ với mình cũng là anh em ruột thịt. Hòa bình rồi…chắc cũng không đến nỗi nào”.

Niềm tin rằng Việt cộng và Quốc gia, miền Bắc và miền Nam, là anh em ruột thịt, và hòa bình thống nhất sẽ hóa giải hận thù, đã khiến ông đại úy Liên phải trả một giá rất đắt. Không chịu nỗi điều kiện giam cầm, tra tấn khủng khiếp, ông đại úy chết không nhìn thấy mặt vợ con trong một trại cải tạo ở miền Bắc.

Ngay từ sau ngày 30/04/1975, những người cộng sản Việt Nam đã liên tục nói nhiều, thuyết giảng nhiều về tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc, rằng chỉ có người Mỹ thua và tất cả người Việt Nam đều là kẻ chiến thắng.

Tuy nhiên những ai đã sống qua những ngày sau “giải phóng” ở miền Nam mới thấm thía cái tình anh em máu mủ với những người cộng sản miền Bắc. Chắc không cần phải nhắc lại những gì những người cộng sản miền Bắc đã làm với những người anh em miền Nam không may thua trận, khiến hàng triệu người miền Nam phải liều chết ra đi tìm đường sống và tự do, tạo nên thảm cảnh thuyền nhân kinh khủng nhất trong thế kỷ 20.

Hận thù, sự tàn bạo, dã tâm và bản chất dối trá của những người cộng sản Việt Nam đã làm tiêu tan hết mọi hy vọng về một cơ may hòa hợp hòa giải dân tộc sau một cuộc chiến tranh tang thương kéo dài 30 năm.

Gần đây tôi có đọc một số bài viết ví von cuộc chiến 1955-1975 ở Việt Nam với cuộc nội chiến 1861-1865 ở Hoa kỳ. Nhiều người viết mơ rằng có một ngày những tử sĩ của quân đội miền Nam sẽ an nghỉ đời đời trong cùng một nghĩa trang với những liệt sĩ của quân đội miền Bắc, như những người anh hùng Nam-Bắc Mỹ trong nghĩa trang Arlington.

Tôi cho rằng những giấc mơ như thế sẽ không bao giờ trở thành sự thật đối với dân tộc Việt Nam. Sự so sánh như trên chỉ làm cho mọi người thấy rõ hơn huyền thoại Long Quân- Âu cơ, trăm trứng trăm con, chỉ mãi mãi là một huyền thoại, và giải thích lý do vì sao người Mỹ cho đến bây giờ vẫn là một dân tộc vĩ đại của nhân loại.

Mặc dầu cầm súng bắn nhau, những người lính trong cuộc nội chiến Nam-Bắc Mỹ không bao giờ quên rằng họ là anh em. Mặc dầu phải dùng chiến tranh bạo lực để giải quyết bất đồng chính kiến, người Mỹ cả hai miền đều dành cho nhau lòng kính trọng bởi lẽ tất cả họ đều sẳn sang đón nhận cái chết để bảo vệ chính kiến của mình. Phải chăng những người lính cả hai bên trong cuộc nội chiến Nam-Bắc Mỹ đã nằm xuống cho sự chiến thắng của chân lý và giúp hình thành một nước Mỹ vĩ đại? Mặc dầu thua trận, những người lính miền Nam nước Mỹ tâm phục khẩu phục lý tưởng và tinh thần chiến đấu cho chân lý của người lính miền Bắc nước Mỹ.

Điều đó đã không xảy ra với người Việt Nam trong cuộc chiến vừa qua. Những người lính miền Nam thua trận nhưng hoàn toàn không tâm phục khẩu phục những người chiến thắng. Bởi lẽ những người lính miền Nam nhận thức rõ rằng lý tưởng chiến đấu của những người cộng sản miền Bắc không phải là chân lý.Những người cộng sản miền Bắc đã du nhập vào Việt Nam một thứ chủ nghĩa đấu tranh giai cấp ngoại lai, không tôn trọng chính kiến của người anh em miền Nam, chụp mũ những người miền Nam là những kẻ bán nước, mạo danh một cuộc chiến tranh chống ngoại xâm để đưa cả nước đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa cộng sản quốc tế.

Sau tất cả mọi cuộc xung đột, thiện chí hòa giải không thể đến từ bên thua cuộc. Những người chiến thắng luôn luôn phải là những người chìa ra bàn tay thân ái. Cũng như quân đội chiến thắng đã đứng nghiêm chào những người lính bại trận Nam Mỹ trên đường về nhà, không hề có một chính sách đối xử phân biệt, không hề có sự trả thù, tất cả mọi sự thật lịch sử đều được tôn trọng và những người miền Nam thua trận được mời chào, tạo cơ hội để đóng góp vào việc xây dựng một đất nước hùng cường trong tương lai..

Có thể những người lính trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa sẽ sớm quên đi những mặc cảm của bên thua cuộc, quên đi những đau đớn thể xác trong những tháng năm tù tội nhọc nhằn, nếu được nhìn thấy từ chiến tranh tàn phá, Việt Nam vươn lên trở thành một quốc gia giàu mạnh, dân tộc được hưởng dân chủ tự do. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Sự thật lịch sử tiếp tục bị bóp méo, đất nước tiếp tục bị cai trị bởi một chế độ độc tài lạc hậu, cả dân tộc chưa từng có dân chủ và tự do.

Những người lính VNCH nói riêng và những người dân miền Nam nói chung không kỳ vọng họ được đứng ngang hàng như những người chiến thắng và chiến bại trong cuộc nội chiến Nam-Bắc Mỹ, nhưng vị trí của họ trong dòng lịch sử của dân tộc phải được công nhận, sự thật về cuộc chiến Việt Nam phải được ghi nhận trung thực và rõ ràng trong lịch sử.

Sỡ dĩ những người cộng sản Việt nam không thể chìa bàn tay thân ái cho những người Quốc gia để hòa hợp hòa giải dân tộc, bởi vì họ biết rằng tôn trọng sự thật lịch sử là bước đầu tiên trong tiến trình hòa hợp hòa giải dân tộc.

Nhưng người cộng sản không thể chấp nhận sự thật lịch sử, bởi lẽ một khi trả lại sự thật cho lịch sử, những người cộng sản có thể phải đứng trước vành móng ngựa như những tên tội đồ của dân tộc Việt Nam. Từ việc du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam, tiến hành đấu tranh giai cấp giết hại hàng chục ngàn người dân vô tội, đến việc tiến hành cuộc chiến tranh “ta đánh Mỹ là đánh cho Liên xô, Trung quốc” khiến hơn 3 triệu người Việt Nam bỏ mạng, hàng chục triệu người tàn phế, “quyết tâm” xây dựng chủ nghĩa xã hội khiến đất nước tụt hậu cả thế kỷ, dân tộc không được hưởng dân chủ tự do.

Thật khó khăn cho những người cộng sản Việt nam khi phải chấp nhận phê phán công hàm bán nước của Phạm Văn  Đồng, thái độ đồng lõa với Trung quốc khi những quân nhân VNCH và chiến sĩ của quân đội NDVN bỏ mình để bảo vệ biển đảo của tổ quốc. Làm sao giải thích thái độ ươn hèn của chính quyền đối với thiên triều Trung quốc? Làm sao giải thích câu hỏi vì sao sau 30 chiến tranh xương máu , dân tộc Việt Nam vẫn tiếp tục xây dựng cái chủ nghĩa xã hội mà nhân loại đã vứt vào sọt rác.

Gần đây, sau 40 năm tàn cuộc chiến, dưới sức ép của công lý và dư luận, dưới sức ép của nhu cầu cần phải lên tiếng về chủ quyền lãnh thổ quốc gia, sự thật của lịch sử dần dần hé lộ. Lần đầu tiên những người cộng sản Việt Nam buộc phải từ bỏ cái thói quen làm việc nước như việc làng để thừa nhận Việt Nam là một thành viên không thể tách rời khỏi cộng đồng quốc tế. Và như thế, theo đúng Công pháp quốc tế sự thật là trước năm 1975 đã có hai nước Việt Nam cùng tồn tại.

Theo đúng Công Pháp quốc tế thì rõ ràng Việt nam Dân chủ Cộng hòa đã tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại và xâm lược Việt Nam Cộng Hòa. Không những thế họ còn cúi đầu trước những đàn anh cộng sản như Liên Xô và Trung quốc, bán rẻ lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc. Trong khi đó những chiến sĩ của quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã hiên ngang nổ súng vào kẻ thù, chiến đấu và hy sinh để bảo vệ bờ cõi biên cương của tổ quốc.

Thái độ trân trọng và công nhận công lao của những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã bỏ mình trong chiến đấu chống quân Trung quốc xâm lược, có thể là bước đầu tiên để làm sống lại tiến trình hòa hợp và hòa giải dân tộc.

Có dân tộc nào trên thế giới này, sau 40 năm tàn cuộc chiến, hận thù giữa hai bên chiến tuyến vẫn còn ngút ngàn như dân tộc Việt Nam? Có dân tộc nào trên thế giới này, sau 40 năm tàn cuộc chiến, những người đại diện cho Việt Nam khi đi ra nước ngoài vẫn được đón tiếp bằng những cuộc biểu tình chống đối sôi sục? Và ngày 30/4 hàng năm , các tòa đại sứ Việt Nam trên toàn thế giới phải đóng cửa im ỉm để đối phó với những cuộc biểu tình của người Việt Nam ở bên ngoài? Có dân tộc nào, sau 40 năm chiến tranh, trên những website, người Việt vẫn còn chửi rũa nhau không tiếc lời?

Những điều nói trên cần phải chấm dứt, và chỉ có thể chấm dứt khi người Việt giải quyết được vấn đề hòa hợp và hòa giải dân tộc.

Nhưng nếu những vấn đề như cuộc nội chiến ý thức hệ 1955-1975 giữa hai miền Nam-Bắc, công nhận tính hợp pháp của quốc gia Việt Nam Cộng Hòa, công nhận sự sai lầm của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, tôn trọng tất cả những người đã nằm xuống trong chiến tranh từ cả hai miền, vẫn còn là những vấn đề mà đảng cộng sản Việt Nam gọi là “nhạy cảm”, thì hy vọng hòa hợp hòa giải dân tộc sẽ không bao giờ thực hiện được.

Trong dòng chảy của lịch sử thế giới và dân tộc, không có một sự thật nào có thể bị vĩnh viễn bưng bít. Người ta đã nói rằng nếu anh bắn vào lịch sử bằng một phát súng trường thì lịch sử sẽ đáp trả anh bằng một phát đại bác.

Trong cương vị của bên thắng cuộc, trách nhiệm bắt đầu và kết thúc tiến trình hòa giải dân tộc nằm ở trong tay của những người cộng sản. Chỉ với thái độ thiện chí thực sự, trả lại sự thật cho lịch sử, những người cộng sản Việt Nam mới có thể đạt được vấn đề hòa giải dân tộc.

Nếu vấn đề hòa giải dân tộc quá khó khăn với những người đang sống, xin hãy bắt đầu với những người đã chết. Việt Nam cần bắt đầu với một biểu tượng của hòa giải hòa hợp dân tộc như nghĩa trang Arlington của Hoa kỳ, để rồi đóng lại vĩnh viễn một giai đoạn thương đau của lịch sử dân tộc.

Ls Lê Đức Minh

Vô Phước


Ngày xưa dưới chế độ phong kiến, người Việt Nam có câu “Vô phước đáo tụng đình” để nói lên sự bất công của hệ thống tư pháp thời đó. Người dân nếu gặp sự bất bình, cần kiện tụng mà cần đến sự phân xử của quan lại địa phương, thì chắc chắn phải chung chi hậu hĩ nếu không thì việc thưa kiện sẽ không mang lại kết quả gì.

Theo tôi chủ nghĩa cộng sản hiện tại ở Việt Nam và Trung quốc, hay Bắc Hàn chỉ là một chế độ phong kiến trá hình dưới danh từ cộng sản. Xét trên bất cứ góc độ nào, người ta cũng thấy sự tương đồng giữa chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam, Trung quốc, Bắc Hàn với các chế độ phong kiến hủ lậu từng tồn tại hàng ngàn năm trên những đất nước này.

Do đó cũng như hàng ngàn năm về trước, câu nói “Vô phước đáo tụng đình” vẫn còn đúng. Người Việt Nam trong nước khi cần phải nhờ đến hệ thống tư pháp của nước CHXHCNVN đều thở dài mà than với nhau rằng: “Thiệt là vô phước...”

Theo tài liệu nghiên cứu của Tổ chức Minh bạch toàn cầu (TIGCB) trong năm 2011 thì cứ 5 gia đình tại  Việt Nam thì có một gia đình thừa nhận rằng họ đã phải hối lộ quan chức tòa án mỗi khi cần có việc nhờ đến hệ thống tư pháp.

Tài liệu của tổ chức này cũng ghi nhận rằng tất cả mọi bản án đều có thể thương lượng với quan tòa, và mức độ nặng nhẹ của bản án thay đổi tùy theo số tiền hối lộ mà các nạn nhân phải chung chi cho quan chức của tòa.

Chính vì thế mức độ chính xác của các bản án tại Việt Nam là không thể tin được. Sự oan khiên của các nạn nhân trong các vụ xét xử tại  Việt nam là điều làm cho các tổ chức nhân quyền quốc tế hết sức lo ngại.

Mới đây nhất một nạn nhân tại Việt Nam là ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang sau khi lãnh án chung thân vì giết người, đã được trả tự do sau hơn 10 năm tù, vì “công an bắt nhầm người và tòa cũng xử nhầm người”. Trong hơn 10 năm ngồi tù ông Chấn đã liên tục kêu oan và làm đơn gửi  khắp mọi nơi. Tuy nhiên chẳng ai thèm để ý đến những lời kêu oan khẩn thiết của ông.

Điều đáng nói là báo chí tại Việt Nam gọi đây là vụ án đầu tiên được minh oan. Điều này có thể hiểu theo hai cách.  Thứ nhất là hệ thống tư pháp Việt Nam quá tốt đến nổi từ xưa đến  nay mới có một người bị oan. Thứ hai là vô số nạn nhân bị oan và đây là lần đầu tiên trong lịch sử tư pháp của Việt Nam, mới có một nạn nhân được minh oan.

Ông Chấn cho biết những người điều tra ông đã dùng mọi biện pháp như tra tấn, khủng bố tinh thần ông để ông phải nhận tội. Trong hoàn cảnh biết không ai có thể giúp mình, ông Chấn nhắm mắt ký lời nhận tội đã được soạn sẳn để tránh cảnh tiếp tục bị hành hình và khủng bố tinh thần.

Cảnh sát Việt Nam hoàn toàn không biết ai là kẻ sát nhân thật sự cho đến khi một người đàn ông, được vợ khuyên,  đã ra trình diện và thú nhận tội sát nhân. Lúc đó ông Chấn mới được trả tự do. Những cán bộ ngày xưa nhờ “tài ba” điều tra những vụ án lớn như trường hợp của ông Chấn nay đã trở thành những cán bộ công an cao cấp đầy quyền lực.

Khi bị chất vấn đề vụ án Nguyễn Thanh Chấn, chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao của Việt Nam là Trương Hòa Bình đã tìm cách tránh trách nhiệm của hệ thống tư pháp bằng cách tuyên bố cần phải trừng trị những hành vi của công an như ép cung, dùng nhục hình. Khi nói điều này, ông Trương Hòa Bình muốn dư luận hiểu rằng “Vô phước đáo...đồn công an”, chứ không phải “Vô phước đáo tụng đình”.

Điều 299 của Bộ luật hình sự của nước CHXHCNVN quy định ép cung là tội hình sự. Rõ ràng nếu Bộ luật hình sự đã quy định rõ ràng như thế, bố bảo tay công an nào cũng không dám ép cung người bị điều tra.

Tuy nhiên cũng theo các luật sư tại Việt nam thì có trời mới chứng minh được chuyện công an điều tra ép cung phạm nhân. Trong trường hợp của ông Nguyễn Thanh Chấn, nạn  nhân đã hai lần kêu oan và tố cáo bị công an điều tra tra tấn và ép cung. Tuy nhiên các quan tòa ở Việt Nam đã “bỏ qua” với lý do ông Chấn không chứng minh được chuyện ông bị công an ép cung?

Điều nực cười là một khi các nhà làm luật và quốc hội ở Việt Nam đã thông qua được một bộ luật hình sự có điều 299, lại buộc những nạn nhân phải tự mình chứng minh là công an đã vi phạm điều 299. Trong khi đó bộ luật này hoàn toàn không quy định về tiến trình thẩm vấn và hỏi cung các nghi can do công an tiến hành.

Làm sao một nạn  nhân có thể chứng minh rằng anh ta bị công an ép cung trong khi trong tiến trình phỏng vấn xét xử, nghi can không được quyền yêu cầu được luật sư của mình hiện diện. Làm sao nạn nhân chứng minh công an vi phạm điều 299 nếu tiến trình phỏng vấn hay hỏi cung không có quy định công an phải ghi âm hay ghi hình toàn bộ tiến trình thẩm vấn và hỏi cung?

Cho nên, có thể nói một cách không hề nhầm lẫn rằng, điều 299 chỉ là một thứ trang sức vô dụng, một thứ vàng giả của hệ thống tư pháp Việt Nam. Thiếu những quy định về tiến trình phỏng vấn hay hỏi cung của công an là một sự thiếu sót cố ý,  nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho công an làm việc. Hay nói đúng hơn là tạo điều kiện cho công an vi phạm nhân quyền của các nạn nhân, trong khi đó hoàn toàn không quan tâm đến số phận của những nạn nhân trong tay của công an.

Những nghiên cứu của các tổ chức nhân quyền thế giới cho thấy một điều rằng tình trạng tra tấn và ép cung trong các đồn công an Việt Nam là chuyện gần như đương nhiên. Chính vì thế chỉ trong hai năm vừa qua, có hơn 10 nghi can chết bí ẩn trong các đồn công an.

Một điều cũng chỉ có trong hệ thống tư pháp tại Việt Nam là ba cơ quan gồm cảnh sát điều tra, viện kiểm sát (công tố viện) và tòa án, tuy ba mà là một. Thực tế ba cơ quan này phối hợp chặt chẽ với nhau để cùng làm một công việc là thống nhất một bản án cho một nghi can nào đó trước khi phiên tòa xét xử diễn ra. Điều này có thể thấy ngay trong thực tế là trước khi ra tòa, tòa án, cảnh sát điều tra và viện kiểm sát đã họp với nhau để “nhất trí” tội danh và bản án cho nghi can!

Chính vì tòa án , cảnh sát và viện kiểm sát đã họp và nhất trí tội danh và bản án trước khi xảy ra phiên tòa, cho nên khi ông Chấn kêu oan trước tòa và nói là bị ép cung thì làm sao mà tòa án có thể chấp nhận được?

Điều nực cười là tòa án tại Việt Nam, sau khi tuyên trả tự do cho ông Chấn đã gửi văn bản yêu cầu những công an từng thẩm vấn ông Chấn trả lời về cáo buộc bị tra tấn và ép cung. Trong trường hợp những tay công an này, hiện là các cán bộ lãnh đạo công an cao cấp, bị bệnh tâm thần thì họ mới lên tiếng thú nhận rằng họ đã ép cung ông Chấn! Dĩ nhiên các tay công an này đều khẳng định họ đã “làm đúng quy trình” như quy định của pháp luật. Quy trình nào, pháp luật nào?

Quý vị có thể thấy ngay số phận thê thảm  của ông Chấn trong bối cảnh “con kiến mà kiện củ khoai”. Ấy vậy mà điều này xảy ra ngay giữa ban ngày ban mặt, trong một đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa của thế kỷ 21.

Tôi tin rằng những người làm luật tại Việt nam không phải không thấy cái sự vô lý của việc có điều 299 trong bộ luật hình sự, nhưng lại không có những quy định về tiến trình thẩm vấn hay  hỏi cung. Tuy nhiên bộ công an (vốn đóng góp vô số ý kiến hữu ích trong tiến trình xây dựng bộ luật hình sự), không dại gì mà lại đòi có những quy định về tiến trình tra hỏi hay thẩm vấn, vì những điều này chỉ gây khó khăn cho công an chứ đâu có lợi gì cho ai!

Thêm vào đó ở Việt Nam một nghi can chọn luật sư bào chữa và sau đó luật sư này phải làm đơn xin cấp giấy phép bào chữa cho nghi can đó và chỉ được làm việc với nghi can đó sau khi có giấy phép.  Trong khi chờ đợi hội đồng xét xử cấp giấy phép cho luật sư thì nghi can dưới sự điều tra xét hỏi của các điều tra viên tài ba đã ký giấy nhận tội từ lâu rồi. Luật sư ra tòa giỏi lắm thì chỉ chửi thầm trong bụng chứ dám nói gì!

Những điều tra của các tổ chức nhân quyền và tham nhũng quốc tế (Transparency Internatinal) cũng cho biết công an cảnh sát là thành phần tham nhũng nhất tại Việt Nam. Có đến 12% người Việt Nam được hỏi ý kiến nhận xét rằng tình trạng tham nhũng và lạm dụng quyền lực trong lực lượng công an và cảnh sát Việt nam là “cực kỳ nghiêm trọng”. Thứ tự các cơ quan tham nhũng được xếp như sau:  Công an cảnh sát, tòa án, đăng ký, đất đai, y tế, giáo dục, thuế và các cơ quan khác. Như thế để thấy rằng công an và tòa án là hai cơ quan bảo vệ pháp luật và duy trì công lý cũng là hai cơ quan tham nhũng nhất Việt Nam. Thế thì pháp luật và công lý ở Việt Nam có thể tồn tại hay không?

Giải thích hiện trạng này, một tờ báo trong nước là tờ Thanh Niên, cho rằng do đồng lương của công an cảnh sát và cán bộ tư pháp quá thấp cho nên họ phải tham nhũng để kiếm cơm nuôi gia đình.

Tuy nhiên một chế độ công an trị phải tồn tại nhờ công an, cho nên không thể  giảm con số công an và cảnh sát được. Một khi lực lượng công an cảnh sát quá đông thì lẽ đương nhiên lương phải thấp. Lương thấp thì phải tham nhũng. Cho nên tham nhũng là đặc trưng của một chế độ công an trị.

Rõ là vô phước cho người Việt Nam.
Ls Lê Đức Minh

Tài liệu tham khảo


Vụ án Nguyễn Thanh Chấn, VN Express 19/11/2013

Police force is most corrupt Vietnam institution: survey, Thanh Niên, 09/07/2013

 

Tự Diễn Biến - Con Đường Tất Yếu


Gạt qua một bên những lời lẽ có tính chất khuôn sáo, giáo điều, tự ca ngợi trơ trẽn vốn bao giờ cũng có trong các bài phát biểu, báo cáo chính trị của các lãnh tụ cộng sản Việt Nam, bài diễn văn của thủ tướng CHXHCNVN Nguyễn Tấn Dũng đầu năm 2014 vừa qua là một trường hợp đặc biệt hiếm.

Lần đầu tiên trong một bài diễn văn cùng loại, ông Dũng đã không hề nhắc nhở gì đến những kẻ thù của chế độ, những kẻ đang âm mưu tự diễn biến, những thành phần phản động cả trong lẫn ngoài nước, đang ngày đêm hoạt động tìm cách hạ bệ đảng cộng sản Việt Nam.

Ngay sau khi nghe bài diễn văn, nhiều nhà phân tích chính trị trong lẫn ngoài nước đã cho rằng sở dĩ ông Dũng không hề nhắc đến “các âm mưu tự diễn biến”, vì nếu quả thật bài diễn văn thể hiện quan điểm chính thức của đảng, thì chính đảng cộng sản Việt Nam đang “lên kế hoạch” để tự diễn biến.

Trong bài diễn văn của mình thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã kêu gọi đổi mới và hoàn thiện thể chế, mở rộng quyền dân chủ và chính trị của nhân dân, giới hạn quyền hạn của chính quyền, kêu gọi sự độc lập và kiểm soát lẫn  nhau của các cơ quan hành pháp, tư pháp và lập pháp.

Nói chung những gì mà ông Dũng nhấn mạnh trong bài diễn văn của mình, đều là những mục tiêu đấu tranh của các phong trào dân chủ trong nước và ngoài nước, từ trước đến nay. Phải chăng các thế lực thù địch của chế độ đã thành công trong các âm mưu tự diễn biến tại Việt Nam, hay đảng cộng sản Việt Nam đã nhận ra rằng tự diễn biến là con đường tất yếu để xây dựng và phát triển đất nước?

Dự đoán về tương lai chính trị của Việt Nam, dưới sự cai trị của đảng cộng sản, cho đến nay vẫn là một trò chơi nhiều rủi ro. Sau mỗi đại hội đảng và thay đổi nhân sự của bộ chính trị, sau mỗi lần bầu cử quốc hội và thay đổi chính phủ, người ta lại dự đoán và dự đoán. Tuy nhiên đa phần các dự đoán sẽ có cải cách và mở rộng dân chủ đều chỉ mang lại sự thất vọng não nề.

Đa số người Việt Nam trong nước tin rằng đảng cộng sản, dù không cầm quyền vĩnh viễn, cũng sẽ tồn tại lâu dài. Một số ít người Việt thì tin rằng ngày tàn của chế độ cộng sản tại Việt Nam đang đến gần. Tuy nhiên nhìn vào những phong trào đấu tranh dân chủ của người Việt trong nước và thái độ của chính quyền cộng sản hiện nay, thì 10 hay 15 năm đến sẽ có những thay đổi quan trọng tại Việt Nam. Những dự đoán lạc quan này dựa trên lịch sử chuyển tiếp từ độc tài sang dân chủ của nhiều quốc gia trong thế kỷ 20, và những đòi hỏi thiết yếu của mọi quốc gia trong thế kỷ 21.

Nhiều người Việt trong nước tin rằng đảng cộng sản còn tồn tại lâu dựa trên sự hiểu biết về quyết tâm sắc máu của đảng trong việc tiêu diệt những thành phần chống đối, khả năng tồn tại bất chấp Liên xô và Đông Âu đã sụp đổ, cũng như thành thích nâng cao mức sống của người dân Việt Nam trong vài thập niên qua.

Từ hai thái độ chính trị nói trên của người Việt, dựa trên các yếu tố nào để tin rằng dự đoán của bên nào sẽ có khả năng trở thành sự thật?

Điều thứ nhất có thể thấy đó là sự thoái hóa của tất cả mọi chế độ độc tài. Quyền lực càng độc đoán, càng tuyệt đối càng hủy hoại tinh thần cầu tiến và khả năng sáng tạo của chính khách lẫn đảng phái.  Đại đa số đảng viên mới tại Việt Nam đều là thành phần cơ hội. Họ cho rằng việc họ giúp đảng tồn tại như là một sự đầu tư phải mang lại lợi nhuận. Từ đó nạn tham nhũng là điều không thể tránh khỏi. Kết cuộc đảng ngày càng mất uy tín, mất khả năng lãnh đạo và càng xa rời quần chúng.

Trong lịch sử thế giới chế độ độc đảng tồn tại lâu nhất tại Liên Xô, Mexico và Đài Loan. Tuy nhiên 10 năm trước khi các chế độ độc đảng này sụp đổ, các quốc gia nói trên đã đối diện với hàng loạt khủng hoảng chính trị và xã hội. Không có chế độ độc đảng nào tồn tại quá 74 năm. Nếu đây là quy luật của lịch sử thì đảng cộng sản Trung quốc và Việt Nam sẽ mất  độc quyền lãnh đạo trong 10 năm đến ( Cộng sản Trung quốc đã cầm quyền từ 1949 và Việt Nam chính thức từ 1975)

Thứ hai, đảng cộng sản vốn được chấp nhận trong thành phần nghèo và ít học đang bị giai cấp trung lưu càng lúc càng đông tại Việt Nam,nắm trong tay kiến thức, tiềm lực kinh tế và khả năng giao lưu toàn cầu, thách thức dữ dội. Các nhà kinh tế chính trị học đã nhận thấy rằng thu nhập bình quân đầu người càng tăng thì các chế độ độc tài càng bị thách thức, ngoại trừ các chế độ độc tài dựa trên niềm tin tôn giáo.

Thu nhập bình quân của Việt Nam hiện nay khoảng 2000 đô la, tức là chỉ mới bằng một phần tư thu nhập bình quân của Nam Hàn và Đài Loan trong thập niên 1980 khi các quốc gia này chuyển từ chế độ độc đảng sang đa đảng.  Nếu thu nhập của người Việt Nam trong nước lên đến mức 8000 đô la trong 10 năm đến thì lúc đó đảng cộng sản Việt Nam sẽ mất độc quyền cai trị. Cứ nhìn vào những khó khăn của chính quyền Việt Nam hiện nay đang điều hành đất nước thì tưởng tượng 10 năm nữa, tình hình còn khốn nạn đến mức độ nào.

Chính những cuộc khủng hoảng chính trị xã hội tại Việt Nam hiện nay và trong tương lai sẽ làm cho một số lãnh tụ đảng có viễn kiến và quyền lực tìm cách cải cách. Những cãi cách nhỏ dần dần sẽ giảm thiểu quyền lực độc đoán của đảng và tạo điều kiện cho phe đối lập hình thành hợp pháp. Cuối cùng đảng cộng sản sẽ thương lượng với phe đối lập để chấp nhận những biện pháp để chuyển giao quyền lực trong hòa bình.

Có thể đảng cộng sản Việt Nam sẽ mất hoàn toàn quyền lực trong cuộc bầu cử đa đảng đầu tiên. Nhưng cách chuyển giao như trên sẽ tránh cho các lãnh tụ đảng và công an khỏi bị truy tố về những tội ác chống lại dân tộc và vi phạm nhân quyền trong quá khứ. Chắc chắn rằng đảng cộng sản Việt Nam đang nghiên cứu cẩn thận mọi bước tiến trên con đường dân chủ hóa tại Miến Điện hiện nay.

Tuy nhiên giải pháp này cần phải được thực hiện khi đảng cộng sản Việt Nam còn ở trong thế mạnh. Nếu không, phe đối lập (chắc chắn gồm nhiều cựu lãnh tụ cộng sản có viễn kiến) có thể dùng bạo lực để cướp chính quyền và sau đó sẽ là truy tố và trừng phạt.

Việt nam đã mất đi cơ hội cho giải pháp nói trên ngay khi Liên xô sụp đổ và nếu cứ kiên quyết chống lại cái gọi là “âm mưu tự diễn biến” như hiện nay thì Việt Nam sẽ không bao giờ có một Boris Yelsin và các lãnh tụ cộng sản Việt Nam sẽ có cùng chung số phận như các lãnh tụ cộng sản tại Romania.

Các lãnh tụ cộng sản Việt nam có lẽ đang tin rằng nếu cộng sản Trung quốc còn thì cộng sản Việt nam còn. Nhưng hãy coi chừng. Lịch sử Trung quốc là lịch sử của những triều đại phong kiến hủ lậu cố bám vào quyền lực đến phút cuối cùng để rồi bị tiêu diệt trong biển máu.

Trước những đòi hỏi cải cách chính trị và mở rộng dân chủ ngày càng căng thẳng, thái độ bám giữ quyền lực đến cùng của các lãnh tụ đảng cộng sản Việt Nam sẽ là yếu tố làm khởi động các lực lượng xã hội dẫn đến một sự kiện như Thiên An Môn tại Việt Nam. Tuy nhiên có thể bài học Thiên An Môn sẽ khiến quân đội Việt Nam từ chối đàn áp các phong trào quần chúng và lần này nạn nhân không phải là sinh viên và quần chúng mà chính là các lãnh tụ đảng.

Ai cũng có thể thấy những khó khăn trong lĩnh vực kinh tế tại Việt Nam hiện nay, bao gồm các vụ án kinh tế có sự dính dáng của những nhân vật tai to mặt lớn, đang trở thành những vấn nạn lớn của đảng cộng sản. Trong nhiều trường hợp những cơn khủng hoảng kinh tế chính là yếu tố làm sụp đổ các chế độ độc tài. Chính những khó khăn về kinh tế đã làm Liên xô hay chế độ độc tài Suharto ở Indonesia sụp đổ.

Hệ thống ngân hàng tại Việt Nam hiện nay có những đặc điểm như sau: bị chính trị hóa, tham nhũng thậm tệ, điều hành kém, nhiều nợ xấu, mờ ám và có thể bùng nổ lớn thành khủng hoảng tài chính bất cứ lúc nào. Trong bối cảnh như trên Việt Nam cũng có thể bị lôi cuốn vào những cơn khủng hoảng kinh tế tài chính khu vực hay thế giới bất cứ lúc nào.

Những cơn khủng hoảng kinh tế tài chính nói trên chắc chắn sẽ gây ra những biến động xã hội xấu khi đời sống và lợi ích của người dân bị ảnh hưởng. Nếu lực lượng công an “chỉ biết còn đảng còn mình” thất bại trong việc duy trì trật tự an ninh xã hội và quân đội thì từ chối đàn áp nhân dân để cứu đảng, thì đảng cộng sản Việt nam sẽ mất quyền lực trong hoàn cảnh bạo động lan tràn.

Dĩ nhiên việc đảng cộng sản Việt nam bị mất quyền lực trong bối cảnh một cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính là tương đối thấp. Tuy nhiên nếu thậm chí tồn tại qua cơn khủng hoảng thì những hậu quả của cơn khủng hoảng kinh tế tài chính cũng làm cho đảng cộng sản trở thành “con ngựa tồi” trong con mắt của người dân và tính chính thống của đảng sẽ lập tức bị thách thức nghiêm trọng.

Bài diễn văn đầu năm 2014 của thủ tướng Việt Nam có thể xem như là một cái nhìn thẳng thắng và trực diện vào cái từng được gọi là “âm mưu tự diễn biến” của một trong những lãnh tụ của đảng cộng sản Việt Nam hiện nay.

Việt nam đã từng học bài học sai từ cái chết của Liên xô để tìm cách thoát khỏi cái chết đó. Có thể đảng cộng sản Việt Nam nay đã học được bài học đúng từ việc Liên xô sụp đổ và nhận thức được một điều rằng đảng cộng sản Việt nam cần phải tự diễn biến ngay từ bây giờ để đảng thoát khỏi một kết cuộc bi thảm và đất nước và dân tộc có một tương lai tươi sáng hơn.


Ls Lê Đức Minh


Tài liệu tham khảo

Nguyễn Tấn Dũng, Diễn văn đầu năm 2014 của thủ tướng CHXHCNVN